[RM] Tố cổ chi Hoàng Hạc Lâu: chốn cũ, người xưa, câu chuyện mới

Đây là cái bìa siêu dài của truyện, nhưng nó là trang ngắn nhất vì nhà dịch làm liền thành một dải, mà tôi thì không biết và cũng không muốn cắt các ảnh khác từ bên ấy

Tôi có tình cảm đặc biệt với “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu.

Không chỉ đơn giản vì tôi vốn thích thơ Đường, dù đúng là tôi luôn say đắm sự cổ kính man mác buồn phả ra từ những câu chữ bị coi là hoa mỹ, những niêm luật bị coi là cứng nhắc, những hình ảnh bị coi là cũ mòn. Không chỉ đơn giản vì bài thơ này gợi nhớ đến quãng thời gian học đội tuyển văn, khi ở trong tòa nhà cũ ẩm thấp mà dí mạnh ngón tay là tường lở tróc ra từng mảng, giọng cô Oanh vút lên đầy hào hứng và rực rỡ, như thể tâm hồn cô cùng những câu thơ ấy đang cùng tan chảy, nung thành một bản hùng ca mà cho đến giờ vẫn làm rung rinh từng sợi tế bào trong người mỗi học sinh ngày hôm ấy. Không chỉ đơn giản vì những từ ngữ được chút chiu tuyệt đẹp như thể đo ni đóng giày cho bài thơ, đến cả những từ ngữ lạc vận cũng không hề khiên cưỡng mà hài hòa một cách tuyệt diệu với âm hưởng sầu bi trong câu từ. Mà vì tất cả những điều ấy cùng kết hợp vào thành một tác phẩm bất hủ có giá trị không chỉ về nghệ thuật, mà còn về lịch sử cùng một chút triết học. Thật đáng tiếc khi sách giáo khoa chỉ đưa “Hoàng Hạc Lâu” vào chương trình đọc thêm, thay vì thả nó xõa cánh tung bay trong giờ giảng, để rồi những ngôn từ lấp lánh ấy có thể thả lại chút gì đó, dù chỉ là một sợi lông vàng nhỏ nhoi, trong lòng người đọc, như cái cách cô Oanh của tôi đã từng.

Bởi những lý do trên, tôi đã bị thu hút đặc biệt với “Tố cổ chi Hoàng Hạc Lâu” ngay từ lần đầu tiên nhìn thấy.


Cả câu chuyện đẹp như một chiếc thảm thêu quý giá, được dệt lên từ những sợi tơ vàng của hiện thực vất vít cùng những sợi tơ bạc của thần thoại, kể về con hạc vàng truyền thuyết hóa thành từ vỏ quýt, nhân vật lấy cảm hứng cho Hoàng Hạc Lâu và Lã Động Tân, một trong Bát tiên nổi danh của Đạo giáo, người đã từng giảng đạo ở ngôi lầu này. Theo chân một chàng trai viết kịch bản cho những buổi biểu diễn ở nơi này, chúng ta cùng lùi về mấy nghìn năm xưa cũ, từ năm Đường Trinh thứ nhất – một quãng thời gian mơ hồ như thân phận của chàng trai kia, mơ hồ như làn sương khói bảng lảng quanh lầu, mơ hồ như tiếng giảng bài lúc khoan lúc nhặt về thói vô thường của Lã Động Tân. Tình cờ thu phục được con hạc tiên, quãng đời sau đó của anh là công cuộc dạy dỗ con vật vô tri ấy trở nên “người” hơn, bảo vệ nó trước mọi nguy hiểm từ đám đạo sĩ xấu xa, dạy cho nó Tam Đoạn để tu thành chính quả, cũng như gửi lại nơi nó mong muốn truyền đạo mà mình không thể hoàn thành. Đổi lại, Hạ Hạc – chính là con hạc tiên ngày nào – đã sống với một lời thề sắt đá, quyết tâm lan tỏa Đạo giáo đến bao người, quyết tâm giữ gìn căn lầu cổ này muôn đời, quyết tâm ở lại chờ mãi một bóng hình, bất chấp việc trăm ngàn năm chỉ đổi lấy vài dòng vắn ký. Cái kết đổi lại một nỗi buồn ai oán, khi đến lúc Hạ Hạc cắt bỏ được trần duyên tạp niệm, để bản thân hóa thành muôn ngàn bụi vàng lấp lánh tan vào hư không, bỏ lại sau lưng quá khứ mỏi mòn, thì người mà cậu chờ đợi đến hàng kiếp kia cuối cùng lại xuất hiện, ngay tại nơi cậu đã siêu thoát, hỏi thăm tung tích của cậu trong vô vọng uổng công. 

Không chỉ là một câu chuyện có hơi hướng đam mỹ thông thường, tác giả đã cho thấy vốn hiểu biết tương đối chắc chắn về lịch sử và văn hóa – từ những câu thơ, những lời văn cho đến trang phục, tình tiết trong cả hiện tại và quá khứ; chưa kể niềm yêu thiết tha với những giá trị lấp lánh ánh vàng ấy: sao ta có thể kể về nó trơn tru tỉ mỉ, nếu bản thân ta không trân trọng tự hào về nó? Nét vẽ cũng toát lên vẻ thanh mảnh dịu dàng như chính nội dung, cốt truyện buồn thương nhưng cũng không hiếm phút giây đáng yêu hài hước, không bị lên gân hay giáo điều, như chỉ đơn giản là chia sẻ những gì mình biết, êm ái bao bọc xúc cảm người đọc như một tấm lụa mềm. Người viết rất chăm chút, người vẽ rất để tâm, người dịch rất tận ý, về cơ bản là không chê được thứ gì – nếu có, thì chính là tính cách nhân vật chưa thật sự được khắc họa rõ nét, có phần hơi phiến diện hời hợt, song xét đến khuôn khổ truyện ngắn một chương thì điểm này có thể thông cảm.


Về nguồn gốc của hoàng hạc, cảm hứng của địa danh này, có hai bản. Theo truyền thuyết, Phí Văn Vi, một tu sĩ đắc đạo, đã từng ngao du khắp sơn thủy cùng hạc vàng; tại nơi ông cùng hạc dừng chân tại “Đồi Rắn” rồi bay đi, người ta xây lên căn lầu này để tưởng nhớ, sau này là để vãn cảnh cùng nhắm rượu ngâm thơ. Một dị bản khác, kỳ ảo và sát với tích “Vỏ quýt hóa hạc” hơn, là chuyện về ông chủ quán rượu họ Tân không khinh kẻ khó, đã tiếp đãi một người hành khất – thực chất là một vị tiên – tử tế, rồi vị tiên trả ơn bằng việc tạo ra con hạc vàng từ vỏ quýt bên cạnh, giúp ông chủ càng có thêm nhiều khách hơn; vì thế, ông đã đổi tên thành Hoàng Hạc Lâu. Dù là câu chuyện nào, thì cả hai đều chứng minh rằng: hạc vàng là một linh thú, có ngộ tính cao hơn người thường, do đó được tôn kính thờ phụng rất nhiều trong Đạo giáo. Chẳng rõ đó là may mắn hay bất hạnh, vì tất cả những buồn thương rải khắp kiếp người – kiếp Hạ Hạc – của nó đều khởi nguồn từ chính sự linh tính ấy. Nếu không có linh tính, sẽ không được Lã Động Tân điểm hóa mà thành người, sẽ không cùng Lã Động Tân chu du phiêu bạt khắp nơi, sẽ không nảy sinh mối tình u hoài mà chờ đợi một người ra đi hàng kiếp, sẽ không cay đắng mà tan vào hư không ngay trước khi nhìn thấy ánh sáng của hi vọng. Dù vậy, nếu không có linh tính, sẽ không thể gặp Lã Động Tân, sẽ không thể được chỉ bảo tận tình cách trở thành “người”, sẽ không thể tận hưởng những hỉ nộ ai lạc mà chỉ loài người mới có. Phúc hay họa, thật chẳng rõ, song có một điều, đó là Hạ Hạc chưa bao giờ hối hận vì những điều ấy, hối hận khi hóa thành người, hối hận khi theo Lã Động Tân, hối hận khi buông bỏ mà tan biến. 

Vậy Lã Động Tân, kẻ bị nhiều người “lên án” khi từ bỏ Hạ Hạc mà một mình đắc đạo? Xét cho cùng, hành động của anh chẳng có gì sai cả. Đúng, Hạ Hạc là một tồn tại đặc biệt, đúng, Lã Động Tân yêu quý Hạ Hạc rất nhiều, đúng, Lã Động Tân biết Hạ Hạc có một mối tình kì lạ với mình, nhưng thế thì sao chứ? Có phần vô tình, cơ mà nếu mà tâm dễ bị lung lay, quyết định dễ bị xoay chuyển thì đã chẳng được công nhận là đã đắc đạo, chỉ là một người trần uyên bác bị chi phối bởi thất tình lục dục mà thôi. Ta cũng làm sao có thể phủ nhận, rằng Lã Động Tân cũng có lòng quyến luyến nên mới cố kéo dài thời gian ở lại trần thế; rằng Lã Động Tân cũng có lòng quyến luyến nên ngoài truyền đạo cho muôn người còn chỉ dạy kiếm pháp Tam Đoạn cho riêng một người – thứ kiếm pháp uy lực nhất, cũng tàn nhẫn nhất; rằng Lã Động Tân cũng có lòng quyến luyến nên mới về lại cố hương tìm cố nhân. Nhiều lúc ta thấy được sự do dự của Lã Động Tân qua ánh mắt, qua đôi tay giơ lên rồi lại rút về, qua khuôn miệng như kìm nén một tiếng thở dài thoát ra, chứng tỏ anh cũng phải đấu tranh rất nhiều mới có thể du tiên. Cho dù đến cuối, tất cả những gì anh dành cho Hạ Hạc vẫn không phải là tình yêu (ít ra là “tình yêu” của Hạ Hạc), chỉ là sự trân trọng yêu mến của một ông thầy với đứa học trò khờ dại, và chỉ có thế. 


“Tố cổ chi Hoàng Hạc Lâu” với tôi không phải là câu chuyện buồn, dưới mọi phương diện. Vì những gì nó đem lại cho người đọc, là rặt những tiếc nuối.

Nếu Lã Động Tân không phát hiện ra hoàng hạc mà điểm linh trí để nó hóa người.

Nếu Hạ Hạc không quấn quýt với Lã Động Tân, luôn luôn theo sát không rời.

Nếu Lã Động Tân không cứu Hạ Hạc khỏi tay lão đạo sĩ xấu xa.

Nếu Hạ Hạc không vô tình nghe lén được cuộc nói chuyện của tiên nhân với Lã Động Tân.

Nếu Lã Động Tân không về trời, để lại Hạ Hạc một mình tiếp nối sứ mệnh truyền đạo.

Nếu Hạ Hạc không kiên định mà chờ đợi Lã Động Tân quay về.

Nếu Hạ Hạc không tỉnh ngộ mà hóa tán hồn phách.

Nếu Lã Động Tân không trở về ngay sau đó để tìm kiếm Hạ Hạc.

Như hiệu ứng bươm bướm, một bước đi sai lệch sẽ làm nghiêng ngả cả một quãng đời. 

Dù vậy, tôi không quá tiếc nuối. Số phận của Lã Động Tân và Hạ Hạc được trời định là không thể ở bên nhau, nên dù cưỡng cầu vẫn sẽ uổng công. Vả lại, hai người đó chẳng có vẻ gì là oán trách số phận vì chuyện này cả. Hạ Hạc trước khi tan biến đã mỉm cười qua hàng lệ – cậu đã ngộ ra điều đó, và chấp nhận rằng thứ mình có chỉ là kỉ niệm lấp lánh hắt về từ quá khứ, một cách thanh thản. Còn Lã Động Tân, tôi đồ rằng khi không gặp được Hạ Hạc anh có tiếc có buồn, song chắc chắn anh sẽ mỉm cười, vì cậu đã bứt đứt được những tham sân si, những chấp niệm ràng buộc tâm hồn cậu, mà rời đi thật hạnh phúc. Chuyện Lã Động Tân đến Hoàng Hạc Lâu sau đó một ngày, một tháng hay một năm, cũng không còn quan trọng nữa. 

Truyện này tôi biết đến từ bài review của Tủ truyện gối đầu giường, truyện thì đọc ở nhà Miss Tony, và có tham khảo thông tin từ Wikipedia. Công nhận là toàn người có tâm, tác giả note của tác giả, người dịch note của người dịch, hầu như chẳng cần tra Google cũng hiểu được hết thông tin; rất cảm ơn các bạn.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s